- 2012elections - 9/11 Special Coverage - aca - africanamericanalzheimers - aids - Alabama News Network - american - Awards & Expo - bees - bilingual - border - californiaeducation - Caribbean - cir - citizenship - climatechange - collgeinmiami - community - democrats - ecotourism - Elders - Election 2012 - elections2012 - escuelas - Ethnic Media in the News - Ethnicities - Events - Eye on Egypt - Fellowships - food - Foreclosures - Growing Up Poor in the Bay Area - Health Care Reform - healthyhungerfreekids - howtodie - humiliating - immigrants - Inside the Shadow Economy - kimjongun - Latin America - Law & Justice - Living - Media - memphismediaroundtable - Multimedia - NAM en Espaol - Politics & Governance - Religion - Richmond Pulse - Science & Technology - Sports - The Movement to Expand Health Care Access - Video - Voter Suppression - War & Conflict - 攔截盤查政策 - Top Stories - Immigration - Health - Economy - Education - Environment - Ethnic Media Headlines - International Affairs - NAM en Español - Occupy Protests - Youth Culture - Collaborative Reporting

Vấn đề người tị nạn là thảm kịch lớn nhất trong thời đại của chúng ta

New America Media, Commentary, Andrew Lam Posted: Aug 30, 2008

LTS - Đây là bản dịch từ bài “Forced Out: The Greatest Tragedy of Our Time” đăng trên website của New America Media. Người Việt dịch và đăng bài này với sự đồng ư của New America Media.


Khi hai trận băo Katrina và Rita khiến cho gần một triệu người phải thiên cư, một số những người này cảm thấy bực tức khi giới truyền thông mô tả họ như là những người tị nạn. Một phụ nữ trở thành vô gia cư dường như lên tiếng thay cho những người khác khi bà nói trước máy thu h́nh TV: “Tôi không phải là người tị nạn. Tôi là người Mỹ.”

Sự kiện nước Mỹ có truyền thống phục vụ như là nơi đến lư tưởng dành cho những người bị xua đuổi là một nguồn hănh diện đối với người bản xứ. Hai chữ “refugee” (người tị nạn) và “American” (người Mỹ) tựa hồ như loại trừ lẫn nhau. Nhưng trên thực tế, địa vị này có thể chuyển sang địa vị kia một cách mau chóng giống như là sự thay đổi thời tiết. Và đối với những người bị bứng gốc, sự nh́n nhận họ là người tị nạn sẽ khiến cho họ có một tia hy vọng.

Đây là định nghĩa của Liên Hiệp Quốc năm 1951 về một người tị nạn: “Một cá nhân đang ở bên ngoài đất nước mà họ mang quốc tịch, hoặc bên ngoài nơi cư ngụ thường xuyên của họ; có sự lo sợ đích đáng rằng họ sẽ bị hăm hại v́ chủng tộc, v́ tôn giáo, quốc tịch, v́ là thành viên của đoàn thể xă hội nào đó, hoặc v́ chính kiến của họ; và họ không thể được hưởng sự bảo vệ của nước đó, hoặc trở về đó, v́ sợ bị hăm hại.”

Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) ước tính hiện thời có khoảng 21 triệu người trên thế giới đủ điều kiện để được xếp vào loại đó. Nhưng con số này trồi sụt mau chóng. Chẳng hạn như cuộc chiến tranh ở Iraq đă khiến hơn hai triệu người vượt biên giới chạy sang các nước láng giềng, kể từ khi xẩy ra cuộc xâm nhập do Hoa Kỳ cầm đầu năm 2003. Cao Ủy Tị Nạn LHQ mô tả đây là “cuộc di cư tập thể lớn nhất ở Trung Đông kể từ vụ thiên cư của người Palestine theo sau sự thành lập nước Israel trong năm 1948.”

Những ai thích ứng với cách định nghĩa khắt khe về người tị nạn, theo như luật quốc tế, sẽ được cung cấp một số bảo vệ pháp lư theo Công Ước Geneva, như quyền được trợ cấp thực phẩm, nơi cư ngụ, và tự do thực hành tôn giáo. Nhưng, dĩ nhiên là điều kiện cung cấp thực phẩm và dược phẩm thay đổi tùy theo từng nơi, và sự bảo vệ người tị nạn tùy thuộc vào những nơi mà họ lưu lạc đến. Chẳng hạn như sau ba năm giao tranh ở Darfur, hàng trăm ngôi làng đă bị tàn phá, khoảng 400,000 người đă chết, 2.2 triệu người đă phải chạy đi lánh nạn trong khi vẫn có thể bị chết đói và bị giết chóc. Đây là một cơn khủng hoảng về nhân đạo, trong khi phản ứng của quốc tế chậm chạp và vô hiệu quả tới độ đáng kinh ngạc.

Bất hạnh hơn những người tị nạn quốc tế là những ai bị xua đuổi và bị bứng gốc nhưng không được nh́n nhận là người tị nạn, chỉ v́ họ chưa vượt qua những ranh giới quốc tế. Thí dụ như có khoảng 2 triệu người như vậy ở Colombia, nửa triệu ở Ivory Coast, 1.5 triệu bên trong Iraq, và 1.5 triệu ở Uganda. Những con số c̣n gia tăng. Một vài tổ chức quốc tế ước tính rằng tổng số những người bị thiên cư ở trong nước họ cao hơn số người tị nạn quốc tế gấp hai lần.

Gần đây Liên Hiệp Quốc đă nh́n nhận sự hiện hữu của những người này và dành cho họ một cách định nghĩa: “Những cá nhân hoặc nhóm người đă bị cưỡng bách phải rời bỏ nhà cửa của họ hoặc những nơi cư ngụ thường nhật, nhất là do hậu quả của những cuộc xung đột vơ trang, hoặc để tránh ảnh hưởng của chúng, tránh những vi phạm nhân quyền, thiên tai hoặc tai họa do con người gây ra, trong khi những người này chưa vượt qua biên giới quốc gia.”

Phần nói về “những thiên tai” trong sự định nghĩa khiến cho người ta khó xác định những con số. Một trăm năm mươi triệu người ở Trung Quốc phải sống lang thang có phù hợp với cách định nghĩa về “những người bị thiên cư ở trong nước” hay không? Trong khi họ phải rời bỏ nguyên quán v́ đất đai của họ bị tàn phá do ô nhiễm và những chất thải từ kỹ nghệ, hoặc do nạn lụt gây ra từ dự án thiết lập đập nước Three Gorges Dam, hoặc bị những viên chức tham nhũng cưỡng đoạt. Và những người Mỹ phải thiên cư v́ hai trận băo Rita và Katrina th́ sao?

Ngày nay, con số những người tị nạn môi sinh (environmental refugee) - tuy không bị hăm hại, nhưng họ đă phải rời bỏ nhà cửa - đang tăng nhanh cùng với những người tị nạn chính trị. Nhưng từ ngữ “người tị nạn môi sinh” cho tới nay chưa được chính thức nh́n nhận, và nhiều nước chưa nghĩ tới chuyện đếm con số những người này, nhất là nếu họ bị thiên cư ở trong nước. Hồng Thập Tự Quốc Tế ước tính con số những người này lên tới 25 triệu trong năm 1999. Mới đây, trận lụt ở Indonesia đă khiến 222,000 người trở thành vô gia cư. Và thiên tai sóng thần trong năm 2005 đă khiến vài triệu người bị bứng gốc chỉ trong một ngày.

Trong thời Chiến Tranh Lạnh, một người nào đó leo qua bức tường ngăn cách Đông và Tây Berlin lập tức được coi là anh hùng. Và một thuyền nhân trước năm 1990 tự động được coi là người tị nạn chính trị, nếu người đó tới được bờ biển. Nhưng khi những biên giới trở thành mờ nhạt cùng với Chiến Tranh Lạnh, thời đại toàn cầu hóa đă dẫn tới những cuộc di chuyển tập thể lớn chưa từng thấy. Sự rộng lượng trên thế giới đối với người tị nạn đă thoái hóa thành sự mệt mỏi của ḷng nhân đạo.

Công tác bảo vệ người tị nạn hầu như đă biến thành công tác bảo vệ những nước kỹ nghệ khỏi bị những người xin tị nạn t́m đến. Những người ngày nay bị xua đuổi phải đương đầu với một hiện tượng hắc ám mới gọi là “hồi hương cưỡng bách” (forced repatriation). Điều này đă trở thành một chính sách được chấp nhận kể từ khi Chiến Tranh Lạnh chấm dứt. Ngày nay rất ít người tị nạn vượt qua được những điều kiện thanh lọc khắt khe để t́m được nơi lánh nạn. Các giới chức Liên Hiệp Quốc sẽ nói với họ rằng sự di chuyển tới những nước mà họ xin định cư là một cuộc di chuyển sai chiều hướng. Ngày càng có ít những nước nhận người tị nạn, và con số những người đủ điều kiện được coi là người tị nạn quá nhiều so với chỉ tiêu nhận người tị nạn của những nước đó.

Câu chuyện về những người bị xua đuổi là câu chuyện của tất cả chúng ta, nó đă cũ như câu chuyện về Vườn Địa Đàng và cuộc thiên cư của ông Adam và bà Eve. Nỗi khổ của người tị nạn thách thức lương tâm của chúng ta, v́ thái độ im lặng và lănh đạm tạo thành tội lỗi của sự ruồng bỏ đồng loại. Ít nhất, cộng đồng quốc tế cần nh́n nhận tất cả những ai phải chạy trốn để tránh bị giết, bất kể nguyên nhân, đều là những người tị nạn và hăy cung cấp cho họ sự bảo vệ b́nh đẳng.

Cách đây một phần tư thế kỷ, Đức Giáo Hoàng John Paul II đă mô tả t́nh cảnh của người tị nạn như là “bi kịch lớn nhất trong tất cả những bi kịch của nhân loại” và “một vết thương đáng hổ thẹn của thời đại chúng ta.” Trong thế kỷ 21, vết thương đó đă mưng mủ. Cách giải quyết hữu hiệu tới mức nào của chúng ta về vấn đề này sẽ định đoạt tương lai xă hội toàn cầu.

Page 1 of 1

-->




Advertisement


ADVERTISEMENT


Just Posted

NAM Coverage

Civil Liberties

Why There Are Words

Aug 10, 2011